|
MỘT
SỐ Ư KIẾN VỀ KHOẢN 3 ĐIỀU
613 BỘ LUẬT DÂN SỰ
LS.
Phan Thị Hải Anh
Bài
viết đăng trên tạp chí Ṭa án nhân dân số 10 năm
2004
Bồi
thường thiệt hại trong trường
hợp sức khoẻ bị xâm hại là
một vấn đề quan trọng của
trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, là mối quan
tâm không chỉ đối với những người
trực tiếp tham gia quan hệ này mà c̣n là
sự trăn trở của nhiều nhà nghiên
cứu, xây dựng và áp dụng pháp luật
trong nhiều năm qua.
Để
làm cơ sở cho việc quyết định
mức bồi thường và h́nh thức
bồi thường, Bộ luật dân sự
đă qui
định tương đối cụ
thể cách xác định thiệt hại
trong trường hợp sức khỏe
bị xâm hại Điều 613, bao gồm:
-
Chi phí hợp lư cho việc cứu chữa,
bồi dưỡng phục hồi sức
khoẻ và chức năng bị mất,
bị giảm sút của người bị
hại.
-
Thu nhập thực tế bị mất,
bị giảm sút của người bị
thiệt hại
-
Chi phí hợp lư và phần thu nhập
thực tế bị mất, bị giảm sút
của người chăm sóc người
bị thiệt hại trong thời gian điều
trị; nếu người bị thiệt
hại mất khả năng lao động và
cần có người thường xuyên chăm
sóc, th́ thiệt hại bao gồm cả chi phí
hợp lư cho việc chăm sóc người
bị thiệt hại và khoản tiền
cấp dưỡng cho những người mà
người bị thiệt hại có nghĩa
vụ cấp dưỡng, nếu có.
-
Tuỳ từng trường hợp, Toà án
quyết định buộc người xâm
phạm đến sức khoẻ của người
khác phải bồi thường một
khoản tiền bù đắp về tinh
thần mà người đó phải gánh
chịu
Nội
dung của Điều 613 Bộ luật dân
sự nh́n chung đă phản ánh được
tính nhân đạo trong tinh thần lập pháp
của nhà nước ta. Tuy nhiên, qua quá tŕnh
nghiên cứu và áp dụng những qui định
này trên thực tiễn, chúng tôi thấy có
nhiều điểm c̣n bất cập, chưa
thật sự đảm bảo được
tính hợp lư và lợi ích chính đáng
của các chủ thể trong quan hệ, đặc
biệt là việc xác định thiệt
hại trong trường hợp người
bị xâm hại sức khoẻ dẫn đến
mất khả năng lao động.
BLDS
của nước cộng hoà xă hội
chủ nghĩa Việt Nam không qui định
rơ thế nào là người bị mất
khả năng lao động. Tuy nhiên, theo
nội dung tại điều 7 - Qui tắc
bảo hiểm tai nạn lao động - ta có
thể hiểu đó là những trường
hợp người bị hại có tỷ
lệ thương tật từ 81% trở lên.
Với thương tật như vậy,
nạn nhân không c̣n khả năng tự lao
động để nuôi sống bản thân
ḿnh và những người mà họ có nghĩa
vụ cấp dưỡng. V́ vậy, để
đảm bảo cho cuộc sống b́nh thường
của những người này, bên cạnh
khoản bồi thường như đối
với các trường hợp khác được
qui định tại khoản 1, khoản 2 và
khoản 4 (Điều 613) BLDS, khoản 3
của điều luật này c̣n qui định
người gây thiệt hại phải
cấp dưỡng cho những người mà
người bị thiệt hại có nghĩa
vụ cấp dưỡng.
Việc
pháp luật qui định như vậy là
nhằm bảo vệ tốt nhất quyền
và lợi ích của người bị
thiệt hại, tuy nhiên, nội dung điều
luật lại chưa thực sự đảm
bảo được tính khả thi khi
đưa vào áp dụng trong thực tiễn:
-
Như chúng ta đă biết, một người
khi thực hiện cấp dưỡng cho
những người ḿnh có nghĩa vụ
cấp dưỡng th́ mức cấp dưỡng
không thể vượt quá khả năng thu
nhập của họ. Tuy nhiên, nội dung
khoản 2 Điều 613 Bộ luật dân
sự đă xác định phần thu
nhập bị mất của người
bị thiệt hại là một khoản
thiệt hại cần phải bồi thường.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 613 Bộ
luật dân sự c̣n qui định người
gây thiệt hại phải cấp dưỡng
cho những người mà người bị
thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Như vậy, cách xác định thiệt
hại trên đă vô t́nh buộc người
gây thiệt hại phải bồi thường
đến 2 lần cho một thiệt hại
xảy ra. Điều này không phù hợp
với nguyên tắc bồi thường tương
đương, đồng thời trút lên
vai người gây thiệt hại một trách
nhiệm quá lớn mà việc thực
hiện "toàn bộ và kịp thời"
nghiă vụ đó trên thực tế là
rất khó khăn.
-
Mặt khác, trong trường hợp thiệt
hại xảy ra đối với những người
trước đó chưa hề có thu
nhập thực tế nhưng hoàn toàn có
khả năng tạo thu nhập trong tương
lai như: học sinh, sinh viên, người
chờ việc... th́ cách xác định
thiệt hại trên sẽ không bảo vệ
được quyền lợi chính đáng
của họ. Bởi lẽ, theo khoản 2
Điều 613 Bộ luật dân sự, do chưa
có thu nhập thực tế nên họ không
được hưởng khoản bồi thường
dành cho thu nhập bị mất.
Mặt
khác, tại khoản 3 Điều 613 chỉ
qui định nghĩa vụ cấp dưỡng
của người gây thiệt hại đối
với những người mà người
bị thiệt hại có nghĩa vụ
cấp dưỡng chứ việc cấp dưỡng
cho bản thân người bị thiệt
hại th́ luật lại không qui định.
Chính
v́ vậy, trong trường hợp nói trên,
người bị thiệt hại sẽ không
được hưởng bất cứ
sự đảm bảo nào về mặt lâu
dài để duy tŕ cho cuộc sống sau này
của họ - cuộc sống mà họ hoàn
toàn có khả năng tự nuôi sống
bản thân và gia đ́nh bằng chính sức
lao động của ḿnh nếu thiệt
hại không xảy ra.
Qua
những phân tích trên, có thể thấy:
Về mặt lư luận, cách xác định
thiệt hại trong trường hợp
sức khoẻ bị xâm hại dẫn đến
mất khả năng lao động theo qui
định tại Điều 613 Bộ
luật dân sự là chưa hợp lư và
thống nhất với nguyên tắc chung
của trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.
Về mặt thực tiễn, cách xác định
thiệt hại như vậy hoặc sẽ
đặt lên vai người gây thiệt
hại một gánh nặng quá lớn hoặc
sẽ không đảm bảo được
lợi ích chính đáng của người
bị thiệt hại.
Để
giải quyết những điểm c̣n
tồn tại nêu trên nhằm đảm
bảo tốt hơn tính công bằng, hợp
lư và khả thi trong việc xác định
thiệt hại, Điều 613 Bộ luật
dân sự nên sửa đổi theo hướng
là “trường hợp người
bị xâm hại sức khoẻ dẫn đến
mất khả năng lao động không nên
xác định thiệt hại đối
với khoản thu nhập bị mất mà
chỉ nên qui định người gây
thiệt hại phải có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho người bị
thiệt hại và những người mà người
bị thiệt hại có nghiă vụ cấp dưỡng”.
Đây
là một hướng giải quyết mang tính
khả thi và tương đối hợp lư
mặc dù trong trường hợp này người
bị thiệt hại ít nhiều sẽ
phải chịu thiệt tḥi v́ mức
cấp dưỡng được xác định
thường ít hơn so với mức
sống cũng như thu nhập trước
đó của họ. Tuy nhiên, xét về
mặt thực tiễn, việc qui định
như vậy, một mặt sẽ giải
quyết được mâu thuẫn giữa
nội dung của khoản 2 và khoản 3
Điều 613 Bộ luật dân sự,
mặt khác cũng đảm bảo
được quyền lợi tối
thiểu của người bị thiệt
hại trong trường hợp trước
đó họ chưa có thu nhập thực
tế.
Có
thể nói xác định thiệt hại là
một vấn đề khó, nhất là đối
với những thiệt hại phi vật
chất như : sức khoẻ, danh dự,
tinh thần, tính mạng... chúng ta chỉ có
thể xác định được một
cách tương đối. Tuy nhiên, việc xây
dựng và không ngừng hoàn thiện các qui
định của pháp luật về vấn
đề này nhằm đảm bảo đến
mức tối đa quyền và lợi ích chính
đáng của các chủ thể trong các quan
hệ bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng nói chung và trường
hợp bồi thường thiệt hại do
sức khoẻ bị xâm hại nói riêng luôn
là điều cần thiết.
Trên
đây là một số ư kiến của chúng
tôi về nội dung Điều 613 Bộ
luật dân sự hiện hành, mong rằng
trong lần sửa đổi Bộ luật dân
sự tới đây những bất cập nêu
trên sẽ được giải quyết./.
|