|
Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định,
được thành lập hoặc đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp
luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
Hiện nay ở
Việt nam có nhiều loại hình doanh
nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh
nghiệp có đặc trưng riêng có
khả năng đem lại cho chủ sở
hữu những lợi thế và những
hạn chế khác nhau. Chính vì vậy
việc lựa chọn được một
hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính
chất kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và
khả năng của người bỏ
vốn thành lập là vô cùng quan trọng, có
tác động tới sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp về sau.
Những lợi thế so sánh mà doanh
nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu
tư là tiêu chí quan trọng nhất cần
được xem xét khi quyết định
lựa chọn hình thức doanh nghiệp
để đăng ký kinh doanh. Thông thường,
những lợi thế mà doanh nghiệp mang
lại cho các nhà đầu tư có thể là:
(i) uy tín mà doanh nghiệp có thể tạo ra
đối với khách hàng; (ii) phạm vi lĩnh
vực hoạt động của
doanh nghiệp; (iii) mức độ
rủi ro mà nhà đầu tư có thể
gặp phải khi lựa chọn loại hình
doanh nghiệp đó; (iv) tính phức tạp
của thủ tục và các chi phí thành
lập doanh nghiệp; (v) mô hình tổ
chức quản lý doanh nghiệp và mức
độ chi phối của nhà đầu tư
tới hoạt động của doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp tư
nhân
Doanh
nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một
cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về mọi hoạt động của
doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy
nhất của doanh nghiệp tư nhân là
một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có
tư cách pháp nhân.
Chủ
doanh nghiệp tư nhân là đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ
doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền
quyết định đối với tất
cả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp; có toàn quyền quyết định
việc sử dụng lợi nhuận sau khi
đã nộp thuế và thực hiện các
nghĩa vụ tài chính khác theo quy định
của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư
nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người
khác quản lý, điều hành hoạt động
kinh doanh. Trường hợp thuê người
khác làm Giám đốc quản lý doanh
nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân
vẫn phải chịu trách nhiệm về
mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Do
là chủ sở hữu duy nhất của
doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn
toàn chủ động trong việc quyết
định các vấn đề liên quan đến
hoạt động kinh doanh của Doanh
nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô
hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân
tạo sự tin tưởng cho đối tác,
khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu
sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp
luật như các loại hình doanh nghiệp
khác. Tuy nhiên, do không
có tư cách pháp nhân nên mức độ
rủi ro của chủ doanh tư nhân cao,
chủ doanh nghiệp tư nhân phải
chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của doanh nghiệp và
của chủ doanh nghiệp chứ không
giới hạn số vốn mà chủ doanh
nghiệp đã đầu tư vào doanh
nghiệp. Nhìn chung, hình thức doanh nghiệp
tư nhân thích hợp với việc kinh doanh
ở quy mô nhỏ, tính chất kinh doanh đòi
hỏi sự chủ động, độc
lập cao của nhà đầu tư.
Công
ty hợp danh
Công ty hợp danh là
doanh nghiệp, trong đó: (i) Phải có ít
nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành
viên hợp danh, có thể có thành viên góp
vốn; (i) Thành viên hợp danh phải là cá
nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín
nghề nghiệp và phải chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty;
(i) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công
ty. Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân
và không được phát hành bất kỳ
loại chứng khoán nào để huy động
vốn.
Thành viên hợp danh
có quyền quản lý công ty; tiến hành các
hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng
liên đới chịu trách nhiệm về các
nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp
vốn có quyền được chia lợi
nhuận theo tỷ lệ được quy
định tại Điều lệ công ty;
không được tham gia quản lý công ty và
hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các
thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi
quyết định các vấn đề
quản lý công ty.
Ưu điểm
của công ty hợp danh là kết hợp
được uy tín cá nhân của nhiều
người. Do chế độ liên đới
chịu trách nhiệm vô hạn của các thành
viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng
tạo được sự tin cậy
của các bạn hàng, đối tác kinh
doanh. Việc điều hành quản lý công
ty không quá phức tạp do số lượng
các thành viên ít và là những người có
uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.
Hạn chế của công ty hợp danh là do
chế độ liên đới chịu trách
nhiệm vô hạn nên mức độ
rủi ro của các thành viên hợp danh là
rất cao.
Công ty hợp danh là
loại hình doanh nghiệp mới được
quy định trong Luật doanh nghiệp năm
2000, do vậy, số lượng các công ty
hợp danh được thành lập trong
những năm qua còn tương đối
ít.
Công
ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên
trở lên
Công ty trách nhiệm
hữu hạn có hai thành viên trở lên là
doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn đã cam kết
góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty
có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng
thành viên tối thiểu là hai và tối
đa không vượt quá năm mươi. Công
ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp
nhân kể từ ngày được cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu
hạn không được quyền phát hành
cổ phiếu để huy động
vốn.
Công ty trách nhiệm
hữu hạn có từ hai thành viên trở lên
phải có Hội đồng thành viên,
Chủ tịch Hội đồng thành viên,
Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu
hạn có trên mười một thành viên
phải có Ban kiểm soát.
Công ty trách nhiệm
hữu hạn là loại hình doanh nghiệp
phổ biến nhất ở Việt nam
hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới
hình thức công ty trách nhiệm hữu
hạn đem lại cho nhà đầu tư
nhiều lợi thế như: (i) do có tư cách
pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách
nhiệm về các hoạt động của
công ty trong phạm vi số vốn góp vào công
ty nên ít gây rủi ro cho người góp
vốn; (ii) số lượng thành viên công
ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên
thường là người quen biết, tin
cậy nhau, nên việc quản lý, điều
hành công ty không quá phức tạp; (iii)
Chế độ chuyển nhượng
vốn được điều chỉnh
chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ
dàng kiểm soát được việc thay
đổi các thành viên, hạn chế sự
thâm nhập của người lạ vào công
ty. Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn cũng có những hạn
chế nhất định như: (i) do
chế độ trách nhiệm hữu hạn
nên uy tín của công ty trước đối
tác, bạn hàng cũng phần nào bị
ảnh hưởng; (ii) công ty trách nhiệm
hữu hạn chịu sự điều
chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn
là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp
danh; (iii) việc huy động vốn của
công ty trách nhiệm hữu hạn bị
hạn chế do không có quyền phát hành
cổ phiếu.
Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên là một hình
thức đặc biệt của công ty trách
nhiệm hữu hạn. Theo quy định
của pháp luật Việt Nam, công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên là
doanh nghiệp do một tổ chức làm
chủ sở hữu; chủ sở hữu
chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số
vốn điều lệ của doanh
nghiệp.
Chủ sở hữu
công ty có quyền chuyển nhượng toàn
bộ hoặc một phần vốn điều
lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân
khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên có tư cách pháp nhân kể
từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên
không được quyền phát hành cổ
phiếu.
Chủ sở hữu
công ty không được trực tiếp rút
một phần hoặc toàn bộ số
vốn đã góp vào công ty. Chủ sở
hữu công ty chỉ được quyền
rút vốn bằng cách chuyển nhượng
một phần hoặc toàn bộ số
vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác.
Chủ sở hữu công ty không được
rút lợi nhuận của công ty khi công ty không
thanh toán đủ các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác đến
hạn phải trả.
Tùy thuộc quy mô và
ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ
chức quản lý nội bộ của công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
bao gồm: Hội đồng quản trị
và Giám đốc hoặc Chủ tịch công
ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách
nhiệm hữu hạn có đầy đủ
các đặc thù của công ty trách nhiệm
hữu hạn có ít nhất hai thành viên.
Điểm khác biệt duy nhất giữa công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít
nhất hai thành viên là công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên chỉ có
một thành viên duy nhất và thành viên này
phải là một tổ chức có tư
cách pháp nhân.
Lợi thế
của công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên là chủ sở hữu công
ty có toàn quyền quyết định mọi
vấn đề liên quan đến hoạt
động của công ty. Tuy nhiên, loại hình
công ty này cũng có hạn chế là các cá
nhân không được phép thành lập
loại hình công ty này, chỉ có một
số chủ thể có tư cách pháp nhân như
các tổ chức chính trị xã hội, công
ty cổ phần, công ty nhà nước…
mới được thành lập công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công
ty cổ phần
Công ty cổ phần
là doanh nghiệp, trong đó: (i)
Vốn điều lệ được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần; (ii) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm
về nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi
số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
(iii) Cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần của mình cho người khác,
trừ trường hợp cổ đông
sở hữu cổ phần ưu đãi
biểu quyết; (iv)
Cổ đông có thể là tổ
chức, cá nhân; số lượng cổ
đông tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần
có tư cách pháp nhân kể từ ngày
được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ
phần có quyền phát hành chứng khoán ra công
chúng theo quy định của pháp luật
về chứng khoán.
Công ty cổ phần
phải có Đại hội đồng
cổ đông, Hội đồng quản
trị và Giám đốc (Tổng giám đốc);
đối với công ty cổ phần có trên
mười một cổ đông phải có
Ban kiểm soát.
Lợi thế
của công ty cổ phần là: (i) chế
độ trách nhiệm của công ty cổ
phần là trách nhiệm hữu hạn, các
cổ đông chỉ chịu trách nhiệm
về nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên
mức độ rủi do của các cổ
đông không cao; (ii) khả năng hoạt
động của công ty cổ phần
rất rộng, trong hầu hết các
lịch vực, ngành nghề; (ii) cơ
cấu vốn của công ty cổ phần
hết sức linh hoạt tạo điều
kiện nhiều người cùng góp vốn vào
công ty; (iv) khả năng huy động
vốn của công ty cổ phần
rất cao thông qua việc phát hành
cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc
điểm riêng có của công ty cổ
phần; (v) việc chuyển nhượng
vốn trong công ty cổ phần là tương
đối dễ dàng, do vậy phạm vi
đối tượng được tham gia
công ty cổ phần là rất rộng, ngay
cả các cán bộ công chức cũng có
quyền mua cổ phiếu của công ty
cổ phần.
Bên cạnh những
lợi thế nêu trên, loại hình công ty
cổ phần cũng có những hạn
chế nhất định như: (i) việc
quản lý và điều hành công ty cổ
phần rất phức tạp do số lượng
các cổ đông có thể rất lớn, có
nhiều người không hề quen biết
nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa
thành các nhóm cổ động đối kháng
nhau về lợi ích; (ii) Việc thành lập
và quản lý công ty cổ phần cũng
phức tạp hơn các loại hình công ty
khác do bị ràng buộc chặt chẽ
bởi các quy định của pháp luật,
đặc biệt về chế độ tài
chính, kế toán.
Công
ty nhà nước
Công ty nhà nước
là doanh nghiệp do Nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ,
thành lập, tổ chức quản lý,
đăng ký hoạt động theo quy định
của Luật doanh nghiệp Nhà Nước.
Công ty nhà nước được tổ
chức dưới hình thức công ty nhà nước
độc lập, tổng công ty nhà nước.
Công
ty nhà nước được thành lập
chủ yếu ở những ngành, lĩnh
vực cung cấp sản phẩm, dịch
vụ thiết yếu cho xã hội; ứng
dụng công nghệ cao, tạo động
lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh
vực khác và toàn bộ nền kinh tế,
đòi hỏi đầu tư lớn; ngành,
lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh
cao; hoặc địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn mà các thành phần kinh
tế khác không đầu tư.
Người
có thẩm quyền ra quyết định thành
lập mới công ty nhà nước là Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương. Riêng đối
với việc quyết định thành
lập mới công ty nhà nước đặc
biệt quan trọng, chi phối những ngành,
lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và
đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước
thuộc thẩm quyền của Thủ tướng
Chính phủ.
Công
ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể
từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi
được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới
được tiếp nhận vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước hoặc
huy động vốn để đầu tư,
xây dựng doanh nghiệp và hoạt động
kinh doanh; công ty được kinh doanh
những ngành, nghề có điều kiện
khi được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh
ngành, nghề có điều kiện hoặc có
đủ điều kiện kinh doanh theo quy
định của pháp luật.
Công
ty nhà nước được tổ
chức quản lý theo mô hình có hoặc không
có Hội đồng quản trị. Các
tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước
độc lập sau đây có Hội đồng
quản trị: (i) Tổng công ty do Nhà nước
quyết định đầu tư và thành
lập; (ii) Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước; (iii) Công ty nhà
nước độc lập có quy mô vốn
lớn giữ quyền chi phối doanh
nghiệp khác.
Hợp tác xã
Hợp
tác xã là tổ chức kinh tế tập
thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
(gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi
ích chung, tự nguyện góp vốn, góp
sức lập ra theo quy định của
Luật hợp tác xã để phát huy
sức mạnh tập thể của từng
xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau
thực hiện có hiệu quả các hoạt
động sản xuất, kinh doanh và nâng cao
đời sống vật chất, tinh
thần, góp phần phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
Hợp
tác xã là một loại hình doanh nghiệp
đặc biệt, có tư cách pháp nhân,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về các nghĩa vụ tài chính trong phạm
vi vốn điều lệ, vốn tích
luỹ và các nguồn vốn khác của
hợp tác xã theo quy định của pháp
luật.
Hoạt
động kinh doanh dưới hình thức
hợp tác xã có nhiều lợi thế như:
(i) có thể thu hút được đông
đảo người lao động tham gia;
(ii) việc quản lý hợp tác xã thực
hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình
đẳng nên mọi xã viên đều bình
đẳng trong việc tham gia quyết định
các vấn đề liên quan đến
hoạt động của hợp tác xã không
phân biệt nhiều vốn hay ít vốn;
(iii) các xã viên tham gia hợp tác xã chỉ
chịu trách nhiệm trước các hoạt
động của hợp tác xã trong phạm
vi vốn góp vào hợp tác xã. Tuy nhiên,
hoạt động kinh doanh theo hình thức
hợp tác xã cũng có những hạn
chế nhất định, như không
khuyến khích được người
nhiều vốn, nhiều kinh nghiệm
quản lý, kinh doanh tham gia hợp tác xã do nguyên
tắc chia lợi nhuận kết hợp
lợi ích của xã viên với sự phát
triển của hợp tác xã; việc
quản lý hợp tác xã phức tạp do
số lượng xã viên đông; Sở
hữu manh mún của các xã viên đối tài
sản của mình làm hạn chế các
quyết định của Hợp tác xã.
Doanh nghiệp liên
doanh
Doanh
nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên
hoặc nhiều bên hợp tác thành lập
tại Việt Nam trên cơ sở hợp
đồng liên doanh hoặc hiệp định
ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính
phủ nước ngoài hoặc là doanh
nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài hợp tác với doanh
nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp
liên doanh hợp tác với nhà đầu tư
nước ngoài trên cơ sở hợp đồng
liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được
thành lập theo hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn. Mỗi bên liên doanh
chịu trách nhiệm trong phạm vi phần
vốn cam kết góp vào vốn pháp định
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có
tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt
Nam, được thành lập và hoạt
động kể từ ngày được
cấp Giấy phép đầu tư.
Vốn
pháp định của doanh nghiệp liên doanh
ít nhất phải bằng 30% vốn đầu
tư. Đối với các dự án xây
dựng công trình kết cấu hạ
tầng, dự án đầu tư vào địa
bàn khuyến khích đầu tư, dự án
trồng rừng, dự án quy có quy mô
lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn,
nhưng không dưới 20% vốn đầu
tư và phải được cơ quan
cấp giấy phép đầu tư chấp
thuận. Tỷ lệ góp vốn của bên
hoặc các bên liên doanh nước ngoài do các
bên liên doanh thoả thuận, nhưng không
được thấp hơn 30% vốn pháp
định của doanh nghiệp liên doanh. Căn
cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công
nghệ, thị trường, hiệu quả
kinh doanh và các lợi ích kinh tế - xã
hội khác của dự án, Cơ quan cấp
giấy phép đầu tư có thể xem xét
cho phép bên liên doanh nước ngoài có tỷ
lệ góp vốn thấp hơn, nhưng không
dưới 20% vốn pháp định.
Đặc
điểm nổi bật của doanh
nghiệp liên doanh là có sự phối hợp
cùng góp vốn đầu tư sản
xuất kinh doanh của các nhà đầu tư
nước ngoài và các nhà đầu tư
Việt nam. Tỷ lệ góp vốn của
mỗi bên sẽ quyết định tới
mức độ tham gia quản lý doanh
nghiệp, tỷ lệ lợi nhuận
được hưởng cũng như
rủi ro mỗi bên tham gia liên doanh phải gánh
chịu.
Doanh
nghiệp liên doanh là hình thức doanh
nghiệp thực sự đem lại
nhiều lợi thế cho cả nhà đầu
tư việt nam và nhà đầu tư nước
ngoài. Đối với các nhà đầu tư
việt nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh,
ngoài việc tượng phân chia lợi
nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhà đầu
tư việt nam còn có điều kiện
tiếp cận với công nghệ hiện
đại, phong cách và trình độ
quản lý kinh tế tiên tiến. đối
với bên nước ngoài, lợi thế
được hưởng là được
đảm bảo khả năng thành công cao
hơn do môi trường kinh doanh, pháp lý hoàn
toàn xa lạ nêu không có bên việt nam thì
sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Tuy
nhiên, hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng
có sự bất lợi là có sự ràng
buộc chặt chẽ trong một pháp nhân
chung giữa các bên hoàn toàn khác nhau không
chỉ về ngôn ngữ mà còn về
truyền thống, phong tục, tập quán,
phong cách kinh doanh, do vậy có thể phát sinh
những mâu thuẫn không dễ gì giải
quyết.
Doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài
Doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu
của Nhà nước đầu tư nước
ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài
thành lập tại Việt Nam tự quản
lý và tự chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài
được thành lập theo hình thức Công
ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách
pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được
thành lập và hoạt động kể
từ ngày được cấp giấy phép
đầu tư.
Vốn
pháp định của Doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài ít nhất phải
bằng 30% vốn đầu tư. Đối
với các dự án xây dựng công trình
kết cấu hạ tầng, dự án đầu
tư vào địa bán khuyến khích đầu
tư, dự án trồng rừng, dự án có
quy mô lớn, tỷ lệ này có thể
thấp hơn nhưng không dưới 20%
vốn đầu tư và phải được
cơ quan cấp giấy phép đầu tư
chấp nhận./.
|